CK Nhật Bản giảm sâu vì Covid-19, cổ phiếu Trung Quốc tăng sau quyết sách của NHTW 11:17 20/04/2021

CK Nhật Bản giảm sâu vì Covid-19, cổ phiếu Trung Quốc tăng sau quyết sách của NHTW

Trong phiên giao dịch sáng thứ Ba, thị trường chứng khoán Trung Quốc ghi nhận sắc xanh sau khi Ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất. Còn lại, các thị trường khác thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương đa phần gặp khó khăn.

Chỉ số Shanghai của chứng khoán Trung Quốc tăng 0,19% lên ngưỡng 3484,08 điểm.

Chỉ số HSI của chứng khoán Hồng Kông lùi nhẹ 0,03% về ngưỡng 29.096,16 điểm.

Trung Quốc đã giữ ổn định lãi suất cho vay chuẩn đối với các khoản vay doanh nghiệp và hộ gia đình trong tháng thứ 12 liên tiếp – quyết định đưa ra vào sáng nay 20/4, phù hợp với kỳ vọng của thị trường.

Lãi suất cơ bản cho vay một năm (LPR) được giữ ở mức 3,85%. LPR 5 năm vẫn ở mức 4,65%.

27/30 nhà giao dịch và nhà phân tích tham gia cuộc thăm dò của Reuters trong tuần này đã dự đoán lãi suất không thay đổi.

Chỉ số Nikkei sụt sâu 1,80% về 29.150,71 điểm.

Cổ phiếu Nhật Bản đã giảm mạnh vào thứ Ba khi nhà đầu tư rất lo lắng rằng việc áp dụng lại các biện pháp khẩn cấp chống Covid-19 ở các thành phố nhất đất nước sẽ làm chậm sự phục hồi kinh tế. Tokyo và Osaka có thể rơi vào tình trạng khẩn cấp do sự gia tăng các số ca nhiễm Covid-19.

Động thái bán ra xuất hiện trên hầu hết các lĩnh vực, chỉ có 1/33 chỉ số phụ ngành của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo giao dịch cao hơn và chỉ có hơn 10 cổ phiếu còn giữ được sắc xanh.

Shoichi Arisawa, tổng giám đốc bộ phận nghiên cứu đầu tư tại IwaiCosmo Securities, cho biết:

Thị trường giống như sự sụt giảm đang dẫn đến một đợt bán tháo khác trong ngày hôm nay.

Xuất hiện nỗi sợ hãi về sự bùng phát trở lại của virus không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở các nước khác. Các nhà đầu tư đang trở nên thận trọng về một nền kinh tế mở cửa trở lại, đặc biệt là vì nhiều công ty Nhật Bản rất nhạy cảm với nền kinh tế toàn cầu .

Các tên tuổi lớn có tầm ảnh hưởng lớn tới thị trường đều giảm điểm. Cổ phiếu Fast Retailing, được biết đến với thương hiệu quần áo Uniqlo, giảm 1,75%, trong khi SoftBank Group mất 1,2%.

Các cổ phiếu liên quan đến chất bán dẫn theo dõi các công ty cùng ngành ở Mỹ thấp hơn, với Tokyo Electron giảm 1,88%, Advantest giảm 3,01% và Murata Manufacturing mất 1,32%.

Cổ phiếu tập đoàn Marui ghi nhận tỷ lệ phần trăm giảm lớn nhất trên Nikkei với mức giảm 4,84%, tiếp theo là Casio Computer, mất 4,35%.

Các cổ phiếu có tỷ lệ phần trăm tăng cao nhất trong chỉ số là CyberAgent Inc, tăng 1,51%, Shiseido, tăng 1,02% và Nippon Yusen, tăng 0,39%.

Tại thị trường Hàn Quốc, chỉ số Kospi tiến 0,33% chạm 3209,50 điểm.

Tại thị trường Úc, chỉ số ASX 200 giảm 0,36% đạt 7040,10 điểm. Thị trường chứng khoán Úc đã giảm từ mức cao nhất trong 14 tháng vào thứ Ba, chịu áp lực từ sắc đỏ của Phố Wall, với các cổ phiếu công nghệ và tài chính thể hiện tệ nhất,

Chỉ số S&P/ASX 200 đã vừa tăng 5 phiên liên tiếp để đạt mức cao nhất kể từ ngày 24 /2/2020 vào thứ Hai. Hiện, chỉ số giảm hơn 2% so với mức cao kỷ lục được ghi nhận hồi tháng 2 năm ngoái.

Đáng chú ý, Afterpay nằm trong số những công ty có tỷ lệ phần trăm tốt nhất, giao dịch cao hơn 2,6%.

Các công ty khai thác trong sắc đỏ, với BHP Group và Fortescue Metals Group giảm khoảng 0,2%.

Rio Tinto, công ty khai thác quặng sắt lớn nhất thế giới, tiến 0,8% sau khi báo cáo lượng xuất khẩu quặng sắt trong quý III tăng 7% so với một năm trước đó.

Lynas Rare Earths mất tới 4%, đánh dấu phiên giảm mạnh nhất trong gần 4 tuần, sau khi báo cáo sản lượng đất hiếm hàng quý giảm nhẹ.

Cổ phiếu tài chính giảm 0,6%, trong đó các ngân hàng cho vay hàng đầu Commonwealth Bank of Australia, Australia và New Zealand Banking Group Ltd giảm hơn 0,4% mỗi cổ phiếu.

Tại New Zealand, chỉ số S&P/NZX 50 chuẩn giảm 1% xuống 12.641,1 – mức giảm mạnh nhất trong 4 tuần.

Cổ phiếu sụt mạnh nhất là Meridian Energy, giảm 3,1%. Mercury NZ giảm 2,5%, trong khi Auckland International Airport giảm 1,7%.

giavangsjc.net

Tin Mới

Tin Cũ Hơn

Mua vào Bán ra
Vàng SJC 56,450 57,000

Tỷ giá

Ngoại Tệ Mua vào Bán Ra
USD tự do 23,17060 23,230100
  USD 22,91020 23,14020
  AUD 16,94479 17,65282
  CAD 18,239101 19,001105
  JPY 2020 2120
  EUR 26,65485 28,04690
  CHF 24,44037 25,46139
  GBP 31,29385 32,60089
  CNY 3,4836 3,6296

Giá bán lẻ xăng dầu Petrolimex

Sản phẩmVùng 1Vùng 2
Xăng RON 95-IV20.26020.660
Xăng RON 95-II,III20.16020.560
Xăng E5 RON 92-II19.04019.420
DO 0.05S15.44015.740
DO 0,001S-V15.79016.100
Dầu hỏa14.41014.690
Đơn vị: đồng / lít

© 2021 - giavangsjc.net